Trang chủ Blog

Nhà thơ Bằng Việt

Cao Bá Quát cũng là nhà thơ và hào kiệt thì ông bị chết chém còn làm nhà thơ thì bất tử. Kết hợp được hai phẩm chất trên vào một con người là khó lắm, tôi chỉ mới thấy có Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi và Bác Hồ là làm được.
Anh vốn là một luật gia được đào tạo tại trường Đại học Tổng hợp Kiew (Liên Xô cũ). Anh có học Văn ngày nào không? Nàng thơ hút hồn anh từ khi nào?
Luật học cho tôi những kiến thức cơ bản về xã hội loài người về tiến trình hưng thịnh và suy vong của các thể chế. Luật học cũng cho tôi hiểu cách tư duy lôgích, phép tổng hợp và phân tích một vấn đề. Những điều này, tôi thấy đều có ích cho văn học, nhất là thơ văn chính luận. Tôi học Văn qua thực tế và tự nghiên cứu mày mò, không qua trường lớp chính quy nào.
Bài thơ đầu tay anh công bố năm nào? Có phải là một bài thơ tình không?
Đó là bài Qua Trường Sa viết năm 1961, tiếc rằng nó lại không phải là thơ tình!
Có một loạt nhà thơ xuất hiện cùng với anh, sau trở thành lớp hàng đầu. Anh có thể nói gì về thơ của mình ngày đó trong thơ chống Mỹ?
Tôi bước vào thơ, tôn trọng sự rung cảm chân thật của mình trước mọi sự ở đời, không thích lên gân, gò ép, chỉ vậy thôi! Tôi yêu thơ có tâm trạng, phải nói được cái bên trong. Tôi cũng thích chữ nghĩa phải tinh và ánh lên một chút gì. Đó là những gì tôi tâm niệm, từ ngày đó.
Dạo đầu năm nay, tin “Bằng Việt tục huyền” cũng hơi giật gân. Anh có thể nói đôi lời về hạnh phúc mới này không?
Đối với tôi, đây là sự hòa đồng trở lại cuộc sống lứa đôi, sau 7 năm sống cô đơn, từ khi góa vợ. Chúng tôi sống rất thông cảm và hòa hợp với nhau.
Đi nhiều, nhìn và nghĩ nhiều, điều đó để lại dấu vết gì trong thơ anh?
Có lẽ đó là sự kinh lịch. Sự kinh lịch sẽ đến, sau khi đã được từng trải và chiêm nghiệm.
Gamzatốp – nhà thơ Đaghextan có phải là nhà thơ anh yêu thích? Anh có gặp ông ấy lần nào không?
Tôi chỉ yêu khía cạnh bộc phát, hồn nhiên trong triết lý sống của ông ấy, chứ không phải toàn bộ thơ ông ấy. Và dù đã dịch thơ Gamzatốp, nhưng tiếc là tôi chưa được gặp ông ấy.
Hội Văn nghệ Hà Nội là nơi anh gắn bó lâu dài, qua nhiều giai đoạn. Anh nghĩ gì về Hội hiên nay? Anh nghĩ gì về chất lượng và vị trí của tờ báo Người Hà Nội?
Tôi bao giờ cũng mong ước và chờ đợi Hội phải thực sự là một mái nhà chung, gắn bó với anh chị em hội viên. Hội phải là nơi anh chị em giao lưu, trao đổi về chuyên môn, khích lệ văn nghệ sĩ sáng tác. Còn tờ báo Người Hà Nội, với tư cách là cơ quan ngôn luận của văn nghệ sĩ Thủ đô, tôi mong muốn nó phải được nâng dần lên thành một tờ báo có đẳng cấp quốc gia, địa phương. Đương nhiên, nó là gương mặt tinh thần của Hà Nội nên phải đậm đà chất văn hiến Thăng Long – Hà Nội.
Không chỉ làm thơ, anh còn là một dịch giả “có hạng”. Theo anh, dịch thơ cần những tố chất gì?
Theo tôi, ngoài việc phải nắm bắt được nhuần nhuyễn ngoại ngữ và tiếng Việt (mà vốn tiếng Việt có khi còn quan trọng hơn ngoại ngữ nữa!). Thì người dịch thơ cần hiểu rõ cái tạng của mình sẽ phát huy được thế mạnh khi dịch những nhà thơ nào, đồng thời có sự nhạy cảm gần như trực giác để biết rằng độc giả sẽ có cái thú khám phá cùng với mình cái gì là mới, là bản sắc riêng, là cách nói riêng của một nhà thơ nước ngoài, bổ sung vào những gì đã có của thơ Việt.
Làm Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam, anh thấy thơ trẻ hôm nay thế nào?
Tôi vẫn đọc thơ trẻ đều đặn và chăm chú. Tôi vui vì phát hiện thấy nhiều cái mới trong cách diễn tả mạnh mẽ và trực giác, cách tu từ gần với phương pháp lập trình máy tính, nghĩa là tiết kiệm, chính xác, rất ít hư từ, ít hình ảnh tùy hứng, ít sự trùng lặp trong diễn tả. Tuy nhiên, tầm xa trong liên tưởng, vốn hiểu biết về nhân sinh và thế giới còn nhiều thiếu hụt, nên chưa gây được phản ứng dây chuyền mạnh mẽ với người đọc.
Một nhà thơ trong nước hay nước ngoài có ảnh hưởng tới phong cách và thi pháp của anh?
Thời trẻ, tối rất yêu thích thơ Chế Lan Viên ở trong nước, thơ F.G Lorca (Tây Ban Nha) và thơ B.Brecht (Đức) ở ngoài nước. Khi đứng tuổi, tôi đọc rất nhiều, đọc đại trà và tìm cách rút tỉa cái hay, cái độc đáo của nhiều người để mình học hỏi, nên khó nhớ có nhà thơ nào thật sự ảnh hưởng đến mình sau này.
Ném câu thơ vào gió là tập thơ mới nhất của anh, gây được tiếng vang trong bạn đọc. Anh nói đôi điều về tập thơ này?
Đây là tập thơ khép lại những suy nghĩ và cảm nhận của tôi cuối thế kỷ XX. Bây giờ thì tôi đang chuẩn bị một tập thơ mới, có lẽ sẽ khác rất nhiều so với thơ tôi trước 2001.
Onga Bécgôn là nữ sĩ Nga thời Xô Viết mà anh yêu quý. Hình như anh đang dịch một tuyển tập của bà?
Tôi đang gắng hoàn tất trong năm nay (2002). Không thật cầu toàn, nhưng tôi bắt đầu làm tập này cũng lâu rồi, không muốn kéo dài thêm nữa.
Phải nghe một lời phê phán hay chê bai, anh có giận không?
Tội gì mà giận cho tổn thọ! Mình tự ngẫm, rút kinh nghiệm và sửa chữa là đủ rồi.
Quê hương là chùm khế ngọt… Cây khế của anh đích thực là ở phương nào?
Quê cha tôi ở Sơn Tây, quê mẹ tôi ở Bắc Giang, tôi sinh ra ở Huế, lớn lên ở Hà Nội. Nhưng tôi vẫn dành lòng biết ơn sâu nặng nhất cho Sơn Tây – là quê nội gốc. Bài thơ Bếp lửa từ đầu đời, cũng hình thành ở đấy.
Rỗi rãi, anh thường làm gì? Anh có thích ra biển hoặc lên rừng không?
Đọc sách, nghe nhạc là hai cái thú lớn nhất khi không đi đâu. Còn ra biển hay lên rừng thì đúng là niềm ao ước của tôi, ngay từ hồi nhỏ. Đối với người có tư duy sáng tạo, một năm trời mà không được đi đâu xa, thì đúng là một cực hình!
Số mệnh – Anh có tin vào tử vi không? Đã ai xem tử vi cho anh chưa?
Tôi vừa tin vừa không tin. Tôi có lấy số tử vi từ khoảng 20 năm trước. Các thầy Hồng Đăng, Trần Quốc Vượng đều đã có xem cho tôi. Nhưng nghe các thầy khẳng định rằng mệnh tôi là loại “mệnh vô chính diệu”, “đắc nhị không”, thì tôi vô cùng thích thú, nghĩ thầm trong bụng: “Mệnh mình như vậy là mệnh “Cuốn theo chiều gió”, tới đâu hay đấy, có gì mà phải quá lo!
Thích chiều bạn và nhường bạn, đó là một nét dễ thấy trong tính cách của anh. Anh đã bị phản bội khi nào chưa?
Bị cũng nhiều vố đấy! Nhưng tôi coi như không biết, để dễ sống hơn và cho qua nhẹ nhàng.
Uống bia đều đều, mặc dù bị bệnh “gút”, anh không chữa được à?
Chả lẽ lại đọc lại cho anh nghe bài thơ Tú Xương, vịnh về “ba cái lăng nhăng nó hại ta…” để anh đại xá cho! Sống vừa đủ, nhưng sống được theo ý thích của mình, đã là một may mắn lớn lắm!
Vừa rồi, đọc Tản Đà, tôi bắt gặp câu này: “Con người ta ở đời, có 2 thái độ đáng quý, một là thánh hiền, hai là làm hào kiệt. Nhưng so sánh thì làm hào kiệt vẫn sướng hơn!”. Nhà thơ có thể trở thành hào kiệt được không nhỉ? Anh nghĩ thế nào?
Nhà thơ và hào kiệt có thể có chỉ khi giống nhau, nhưng tạng người thì khác nhau. Đặng Dung vừa là nhà thơ vừa là hào kiệt, nhưng bài thơ Thuật hoài của ông thì sống mãi, còn sự nghiệp khôi phục nhà Hậu Trần của ông thì thất bại. Cao Bá Quát cũng là nhà thơ và hào kiệt thì ông bị chết chém còn làm nhà thơ thì bất tử. Kết hợp được hai phẩm chất trên vào một con người là khó lắm, tôi chỉ mới thấy có Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi và Bác Hồ là làm được. Vì vậy tôi không dám nói ngông như Tản Đà.
Yêu đời, yêu người và lúc nào cũng trẻ, đó là nét dễ nhận thấy ở anh. “Tuổi thơ ngây là thiên tài thi, mà thi sĩ là sự kéo dài tuổi thơ ngây” (Anbe Bôđê). Anh có thấy như vậy không?
Mỗi cách ví von đều có lý ở một khía cạnh nào đó mà có thể vô lý ở khía cạnh khác. Ví dụ tôi có thể đảo lại câu anh vừa nói, đại loại như “Thiên tài thi sĩ chỉ có thể bắt đầu từ tuổi thơ ngây, nhưng cứ kéo dài mãi tuổi thơ ngây, chưa chắc đã hình thành một thi sĩ”, thì có lẽ anh cũng không phản đối! Đúng không?
16/09/2016 , Trịnh Thanh Sơn – Thế Giới Điện Ảnh – Năm 2003

Gửi bình luận

Tên của bạn *
Email *
Cảm nhận *